http://boxstr.com/files/2330252_xkvrb/mudim-0.8-r126.js
 
Trang ChínhCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 TƯƠNG TÁC THUỐC

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 56
Join date : 29/05/2010
Age : 29
Đến từ : Hòa Thành Tây Ninh

Bài gửiTiêu đề: TƯƠNG TÁC THUỐC   Sat May 29, 2010 6:18 pm

TƯƠNG TÁC THUỐC
-----o-----o-----o-----


MỞ ĐẦU

Trong điều trị, việc sử dụng đồng thời nhiều thuốc trên một bệnh nhân là có thể gặp phải do bệnh nhân tự ý mua thêm thuốc ngoài đơn của bác sĩ, cũng có thể do bác sĩ chủ ý kê. Mục đích sủ dụng nhiều thuốc cùng một lúc rất khác nhau :
- Có thể do bệnh nhân mắc một lúc nhiều bệnh.
- Có thể do bác sĩ muốn lợi dụng tác dụng hiệp đồng của các thuốc trong điều trị bệnh.
- Có thể do thầy thuốc muốn phối hợp thêm thuốc để giãm một tác dụng không mong muốn nào đó do thuốc chính gây ra.
- Có thể do muốn sử dụng thêm thuốc nhằm hổ trợ sức khỏe (các vitamin hoặc thuốc bỗ khác).
Điều đáng lưu ý trong trường hợp này là liệu có gặp phải những tác dụng bất lơi nào do phối hợp thuốc không ?
Tương tác thuốc là tác động qua lại giữa các thuốc xảy ra trong cơ thể khi dùng đồng thời dẫn dến những thay đổi về tác dung dược lý hoặc độc tính.
Tỷ lệ tương tác tăng theo cấp số nhân so với số thuốc có trong đơn.
Như vậy, việc nắm vững kiến thức về tương tác thuốc sẻ giúp cho việc điều trị đạt kết quả tốt hơn với độ an toàn cao hơn.
Chuyên đề này nhằmmuc5 đích cung cấp những kiến thức về cơ chế tương tác thuốc và hướng xử lý khi gặp tương tác. Các loại tương tác sẻ trình bày bao gồm tương tác dược lực học, tương tác dược động hoc của thuốc với thuốc, tương tác của thuốc với thức ăn, tương tác thuốc với dồ uống. Tôi không trình bày tương tác thuốc với kết quả xét nghiệm sinh hóa (khả năng gây sai lạc kết quả xét nghiệm do dùng thuốc).

I - TƯƠNG TÁC DƯỢC LỰC HỌC
Tương tác loại này xảy ra khi các thuốc phối hợp có vị trí tác dụng trên cùng một thụ thể (receptor) hoặc khác thụ thể nhưng cùng đích tác dung. Hậu quà của tương tác có thể là :
* Lợi dụng nhằm tạo ra những hiệp đồng có lợi cho điều trị
Ví dụ :
- Để diệt vi khuẩn gây loét dạ dày - tá tràng Helicobacter pylori. Việc phối hợp hai kháng sinh (ví dụ : amoxicillin và clarithromycin) với một thuốc giãm tiết acid dịch vị (ví dụ : omeprazol) sẻ đem lại tỷ lệ thành công cao hơn nhiều so với chỉ dùng 1 kháng sinh hoặc chỉ dùng thuốc giãm tiết đơn độc.
- Để điều trị lao thường phải phối hơp 2, 3, 4 hoặc thậm chí 5 thuốc nhằm tăng cường hiệu quả hoặc giãm khả năng kháng thuốc của vi khuẩn lao.
* Lợi dụng tác dụng tác dung đối lập để giải độc thuốc.
Ví dụ :
- Naloxon là chất đối kháng với morphin do tranh chấp thụ thể với morphin, dược dùng để giải độc morphin.
- Atropin đươc dùng để giải độc physostigmin do tranh chấp thụ thể M.
* Phối hợp tạo tác dụng đối kháng làm giãm tác dụng dược lý hoặc tăng độc tính
Ví dụ :
- Sử dụng đồng thời cloramphenicol với erythromycin, tạo ra sự cạnh tranh tại thụ thể 50S của ribosom vi khuẩn, hậu quà giãm tác dụng kháng khuẩn của kháng sinh.
- Dùng furosemid (Lasix) có thể gây giãm K+/máu, làm tăng độc tính của digoxin trên cơ tim.
Vì các tương tác dươc lực học được hoxc kỹ trong môn Dược lý nên chuyên đề này chỉ nhắc lại một số nét cơ bản.

II - TƯƠNG TÁC DƯỢC ĐÔNG HỌC :
Dược động học của thuốc là quá trình hấp thu (A), phân bố (D), chuyển hóa (M), thải trừ (E), nghĩa là "số phận" của thuốc từ khi vào cơ thể cho đến khi bi loại trừ ra khỏi cơ thể. Các kiểu phối hợp thuốc làm thay đổi quá trình này gọi là tương tác dược động học. Hậu quả của tương tác dược động học thường dẫn đến thay đổi nồng độ thuốc trong máu.
Trong chuyên đề này chỉ đề cập đến một số loại tương tác ở giai đoan hấp thu liên quan đến chỉ định giờ uống thuốc hợp lý.
* Tương tác do thay đổi pH dịch vị
Dịch vị có pH từ 1 - 2. Sự thay đổi pH tại dạ dày do một thuốc gây ra sẻ ảnh hưởng đến sự hấp thu của thuốc dùng đồng thời.
Những thuốc làm thay đổi pH dịch vị theo kiểu làm tăng pH là do các thuốc điều trị loét dạ dày - tá tràng như các antacid (Maalox, Phosphalugel...) hoặc các thuốc giãm tiết HCL (omeprazol...). Khi pH dạ dày tăng một số thuốc như ketoconazol sẽ hấp thu kém hơn.
Thuốc làm pH dịch vị giữ mức độ acid lâu hơn là vitamin C. Khi dịch vị giữ mức độ acid lâu hơn sẻ ảnh hưởng đến các thuốc kém bền trong môi trường acid (ampicillin, cephalexin, erythromycin...) làm tăng phân hủy các thuốc này và giãm sinh khả dụng.
* Tương tác do tạo phức khó hấp thu
Điều này hay xảy ra khi ta sử dụng các thuốc có chứa các ion kim loại hóa trị cao như Al+++, Ca++, Mg++, Fe++, Fe+++... ; phức chất tạo ra giữa ion kim loại với thuốc sẻ không qua được niêm mạc ruột và do đó sự hấp thu bị cản trở. Thuốc hay bị tạo chelat nhất là các kháng sinh nhóm tetracyclin, fluoroquinolon. Tương tác này cũng gặp khi dùng các kháng sinh nêu trên với sữa.
Cholestyramin (một chất làm tủa muối mật dùng để ngăn cản quá trình hấp thu các chất béo, dùng trong điều trị chứn tăng lipid huyết) cũng có thể tạo phức với một số thuốc và cản trở hấp thu : thí dụ với digoxin.
* Tương tác do cản trở bề mặt hấp thu
Các thuốc bao niêm mạc như Smecta, Sucralfat...ngăn cản sự vận chuyển nhiều thuốc qua niêm mạc ống tiêu hóa và làm giãm nồng độ thuốc phối hơp.
Để tránh xảy ra tương tác dẫn đến giãm nồng độ thuốc với các trường hợp trên, phải uống các thuốc cách nhau tối thiểu 2 giờ.

III - TƯƠNG TÁC THUỐC VỚI DỒ UỐNG
Trong mọi trường hợp, nước là đồ uống thích hợp cho mọi loại thuốc vì không xảy ra tương kỵ khi hòa tan thuốc.
@ Ưu điểm của việc dùng nước để uống thuốc
- Nước làm thuốc dễ dàng trôi từ thực quản xuống da dày, tránh sự dọng viên thuốc hoặc hoạt chất tại thành thực quản và nhờ đó giãm tác dụng gây kích ứng và gây loét của một số thuốc như quinin, erythromycin, doxycyclin, sắt, aspirin... Điều này đặc biệt quan trọng với người già vì ở đối tượng này lượng dịch tiết ít và thành thực quản khô nên khó dẫn thuốc.
- Nước làm tăng đô tan của thuốc, giúp cho thuốc khuếch tán đến khắp bề mặt ống tiêu hóa và do đó tạo điêu kiện cho sự hấp thu tốt hơn. Như vậy, nước có ảnh hưởng lớn tới những thuốc có độ tan thấp như amoxycilin, theophylin, penicilin V dạng acid...
- Lượng nước nhiều sẻ giúp thuốc bài xuất nhanh qua thận và do đó giãm được độc tính của nhiều loại thuốc như cyclophosphamid, hoặc giãm tác dụng do tạo sỏi của cácsulfamid. Nói chung, lượng nước cần để uống thuốc phải từ 100 - 200 ml. Không nên nuốt chửng thuốc không có nước. Ngoại lệ có một số loại thuốc chỉ cần dùng một lượng nước nhỏ chừng 30 - 50 ml để chiêu thuốc.
Thí dụ :
+ Thuốc tẩy sán niclosamid __> cần tạo nồng độ thuốc đậm đặc quanh thân sán.
+ Kavet hoặc các thuốc dạng gói bộtchua74 viêm loét dạ dày theo cơ chế giãm toan (antacid) ___> cần tạo một lượng bột sánh giữ lâu trong dạ dày để tăng tác dụng trung hòa acid.
+ Các loại thuốc ở dạng viên bao tan trong ruột hoặc viên giải phóng chậm chỉ cần uống khoảng 50 ml nước, đủ để đưa viên thuốc xuống ruột. Nếu uống quá nhiều nước, thuốc có thể bị chuyển hóa nhanh trong lòng ruột và ra ngoài trước khi hấp thu hoàn toàn tại vi trí đã định.
@ Những loại đồ uống nên tránh
- Các loại nước hoa quả, nước khoáng kiềm hoặc các loại nước ngọt có gas vì các loại nước này có thể làm hỏng thuốc hoặc gây hấp thu thuốc quá nhanh.
- Không dùng sữa để uống thuốc vì bản chất của sữa là caseinat calci. Ion calci có thể tạo phức với nhiều loại thuốc, thí dụ tetracyclin nếu uống cùng với sữa sẻ bị cản trở hấp thu.
Các lipid trong sữa có thể hòa tan một số thuốc vào trong đó và giữ thuốc lại. Các hợp phần protein trong sữa có thể liên kết với một số thuốc có ái lực cao với protein. Tất cả các quá trình này đều cản trở hấp thu thuốc. Đa phần các kháng sinh thông dụng đều bị sữa làm giãm hấp thu như erythromycin, penicilin V, các tetracyclin...
- Cà phê, chè : Tanin trong chè có thể gây tủa nhiều loại thuốc có chứa sắt hoặc alcaloid. Cafein trong cà phê có thể làm tăng độ hòa tan của một số thuốc như ergotamin nhưng lại cản trở hấp thu các loại thuốc liệt thần (neuroleptic).
- Rượu (alcol) : Nhiều bệnh nhân bị bệnh tâm thần do nghiện rượu, do đó khả năng gặp phải trường hợp bệnh nhân vừa uống thuốc vừa uống rượu không phải là hiếm. Cần lưu ý để tránh những tương tác sau :
+ Rượu và các thuốc tác dụng lên thần kinh trung ương:
Các benzodiazepam khi uống cùng với rượu sẻ gây thay đổi tâm tính rất mạnh ngay ở liều thường dùng. Sự thay đổi này chỉ có thể gặp ở liều rất cao nếu dùng đơn độc không có rượu.
Tác dụng kích thích ở liều nhỏ, ức chế ở liều cao của rượu làm ảnh hưởng nhiều đến tác dụng điều trị của các nhóm thuốc chống trầm cảm, thuốc ngủ, thuốc chống động kinh.
+ Rượu và thuốc giãm đau không steroid : Rượu làm tăng tác dụng phụ trên đường tiêu hóa như viêm, loét, chảy máu của các thuốc chống viêm không steroid (aspirin...).
+ Rượu uống cùng với paracatamol : Làm tăng nguy cơ viêm gan.
+ Rượu và thuốc kháng histamin :
Các loại kháng H1 có tác dụng ức chế thần kinh trung ương, do đó khi uống cùng với rượu sẻ xuất hiện tác dụng ức chế quá mức ngay ở liều thấp.
Các loại kháng H2 do tác dụng kiềm hãm men ở microsom gan. Làm chậm quá trình chuyển hóa rượu và tăng mức alcol trong máu, gây nhức đầu, buồn nôn...
+ Rượu và thuốc chống tăng huyết áp :
Do tác dụng giãn mạch ngoại vi của rượu, nếu uống đồng thời với thuốc chống tăng huyết áp có thể có nguy cơ gây tụt huyết áp đột ngột quá mứa cần thiết.
Alcol còn là dung môi tốt cho những thuốc có hệ số mỡ/nước cao ( như thuốc chẹn beta), làm cho thuốc hấp thu quá nhanh, gây tác dung đột ngột do tăng nồng độ thuốc trong máu trên mức điều trị.
+ Rượu và thuốc chống đái tháo đường :
Tác dụng hợp đồng lên chuyển hóa hydratcarbon dẫn đến nguy cơ hạ đường huyết đột ngột, gây hôn mê.
Một số sulfamid như tolbutamid khi uống cùng với rượu gây phản ứng antabuse (sợ rươu).
+ Rượu và thuốc kháng khuẩn : Một số chất khi dùng với rượu sẻ gây phản ứng antabuse (sợ rượu) như các cephalosporin, isoniazid, metronidazol...

IV - ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN THUỐC
Trong chuyên đề này, tôi chỉ đề cập đến ảnh hưởng của thức ăn đối với quá trình hấp thu thuốc, làm cơ sở cho việc hướng dẫn giờ uống thuốc so với bửa ăn.
- Thức ăn làm thay đổi thời gian rỗng của da dày. Nếu uống thuốc lúc đói, thuốc chỉ lưu lại dạ dày chừng 10 - 30 phút rồi được tống ngay xuống ruột. Trái lại nếu uống thuốc sau bữa ăn, thời gian lưu lại dạ dày của thuốc có thể từ 1 - 4 giờ. Điều này ảnh hưởng tới sinh khả dụng của nhiều thuốc.
Ví dụ :
+ Các thuốc có độ tan kém (như propoxyphen) sẻ có lợi khi lưu lại dạ dày lâu vì thời gian này giúp thuốc chuyển thành dạng tan tốt hơn trước khi chuyển xuống ruột để hấp thu.
+ Trái lại, các thuốc kém bền trong mội trường acid như ampicillin, erythromycin, lincomycin... nếu bị lưu lại dạ dày lâu sẻ tăng khả năng bị phá hủy và do đó giãm sinh khả dụng.
+ Với các thuốc được bào chế dưới dạng viên bao tan trong ruột, viên giải phóng chậm thì việc giữ lại dạ dày lâu là hoàn toàn bất lợi vì màng bao viện có thể bị vỡ, gây ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc. Do đó nên uống các thuốc loại này trước bữa ăn chừng 30 phút đến 1 giờ hoặc 1 - 2 giờ sau khi ăn.
- Thức ăn làm cản trở sự di chuyển của thuốc trong lòng ruột, do đó nếu uống thuốc sau bữa ăn, thuốc sẻ bị khối thức ăn cản trở và di chuyển chậm trong ống tiêu hóa. Lợi dụng : Các thuốc giải phóng chậm, thuốc cần tác dụng tại chổ trong lòng ruột, nếu uống vào thời điểm sau khi ăn chừng 1 2 giờ là thích hợp.
- Thức ăn kích thích sự tiết mật, đặc biệt là thức ăn giàu chất béo. Điều này sẻ có lợi cho việc hấp thu các thuốc tan nhiều trong mỡ như griseofulvin, vitamin A, D, E, K...
- Thức ăn hoạt hóa hệ thống men vận chuyển các chất qua thành ruột, nhờ vậy mà sự hấp thu các thuốc có bản chất là các hợp phần dinh dưỡng như các vitamin, glucose, acid amin, các muối khoáng... sẽ dễ dàng hơn.
- Ảnh hưởng của các hợp phần thức ăn đến sự hấp thu thuốc : Bữa ăn giàu chất béo, quá nhiều đường, quá mặn hoặc quá chua đều cản trở sự di chuyển của khối thức ăn tư dạ dày xuống ruột. Đều này sẻ ảnh hưởng không tốt đến các thuốc kém bền trong môi trường acid của dạ dày và làm chậm sự di chuyển của thuốc đến vi trí hấp thu tố ưu là ruột non.
- Ảnh hưởng của thức ăn đến sự hấp thu của thuốc còn phụ thuộc nhiều vào dạng bào chế của thuốc : Các dạng thuốc rắn, thuốc có độ tan thấp bị ảnh hưởng bởi thức ăn nhiều hơn các thuốc dạng lỏng, thuốc ỏ dạng dung dịch, cồn thuốc...
Ví dụ : Aspirin dạng viên nén uống sau khi ăn sẻ bị giãm sinh khả dụng 50%, trong khi đó aspirin sủi bọt lại không bị thức ăn cản trở hấp thu.
Ở đây cần phải phân biệt khái niệm : Giãm hấp thu và chậm hấp thu.
+ Một thuốc bị thức ăn làm giãm hấp thu tức là tổng lượng thuốc vào máu nếu uống cùng với bữa ăn sẻ giãm so với uống cách xa bữa ăn. Trường hợp này nên uống cách xa bữa ăn ( trước 30 phút - 1 giờ hoặc sau khi ăn 2 giờ).
+ Một thuốc bị thức ăn làm chậm hấp thu có nghĩa là thời gian để thuốc đạt nồng độ tối đa trong máu nếu uống sau khi ăn sẻ dài hơn nếu uống xa bữa ăn (lúc đói), nhưng tổng lượng thuốc vào máu có thể không bị ảnh hưởng. Ví dụ : Các sulfamid kháng khuẩn, amoxicillin, digoxin...Trường hợp này có thể uống thuốc sau khi ăn để tránh tác dụng phụ do kích ứng đường tiêu hóa (nếu có).
+ Những thuốc không bị thức ăn làm ảnh hưởng đến hấp thu có thể uống lúc nào tùy ý nhưng uống vào bữa ăn sẻ tốt hơn vì sẻ giãm được tác dụng phụ do kích ứng đường tiêu hóa. Trường hợp này thường xảy ra với thuốc có độ tan kém : lúc này lượng chất lỏng dùng kèm có ảnh hưởng nhiều đến sự hấp thu thuốc : Lượng nước càng nhiều, thuốc hấp thu càng tốt.
+ Những thuốc được thức ăn làm tăng hấp thu nên uống trong hoặc ngay sau khi ăn để tăng sinh khả dụng.

V - HƯỚNG DẪN THỜI GIAN UỐNG THUỐC HƠP LÝ

5.1. Những yếu tố quyết định thời điểm uống thuốc
@ Mục dích dùng thuốc
Ví dụ :
- Thuốc ngủ uông vào buổi tối trước khi ngủ.
- Thuốc hạ sốt giãm đau uống khi có sốt có đau.
@ Dược lý thời khắc tức là ảnh hưởng của nhịp thời gian đối với tác dụng sinh học của thuốc
Ví dụ : Các thuốc loại corticoid nên uống vào buổi sáng khoảng 6 - 8 giờ, vì đây là thời điểm nồng9 độ hydrocotison trong máu cao nhất trong ngày. Uống lúc này sẻ không phá vỡ nhịp sinh lý hoạt động của tuyến thượng thận và ít gây hiện tượng ức chế trục dưới đồi - yên - thượng thận.
@ Tương tác của thuốc - thức ăn
Những thuốc bi thức ăn làm giãm hấp thu sẻ được uống xa bữa ăn ( trước khi ăn từ 30 phút đến 1 giờ). Những thuốc không bị ảnh hưởng cùa thức ăn nên uống khi ăn để giãm tác dụng phụ trên ống tiếu hóa. Các thuốc được thức ăn làm tăng hấp thu cũng có thể chon thời điểm uống vào bữa ăn. Tuy nhiên, một số trường hợp tốc độ hấp thu thức ăn nhanh quá có thể gây nhiều tác dụng phụ hoặc độc tính thì nên chọn uống xa bữa ăn.
@ Tương tác giữa các thuốc với nhau
Những thuốc khi uống cùng nhau gây cản trở hấp thu lẫn nhau phải đượ chỉ định uống cách nhau ít nhất 2 giờ và lưu ý thuốc nào cần hấp thu phải được đưa trước.
Ví dụ : Khi uống lincomycin cùng Smecta, phải uống lincomycin trước, 2 giờ sau mới được uống Smecta, nếu làm ngược lại thì do khả năng gây cản trở bề mặt hấp thu của smecta kéo dài nên 2 giờ sau vẫn không thể dùng lincomycin được.

5.2. Lựa chọn thởi điểm để uống thuốc
@Uống vào bữa ăn
- Những thuốc kích ứng mạnh dường tiêu hóa như doxycyclin, kháng sinh nhóm quinolon, muối kali... Những thuốc này uống vào lúc ăn vì thức ăn không làm giãm hấp thu thuốc. Nếu thuốc kích ứng đường tiêu hóa mạnh nhưng lại bị thức ăn làm giãm hấp thu thì có thể uống vào bữa ăn với điều kiện chuyển thuốc thành dạng lỏng (nhai hoặc uống nhiều nước) hoặc chọn dạng bào chế thích hợp, thí dụ trường hợp aspirin.
- Những thuốc hấp thu quá nhanh lúc đói, dẫn đến việc tăng tác dụng phụ do sự tăng nồng độ đột ngột trong máu như levodopa, diazepam...
- Những thuốc được thức ăn làm tăng hấp thu như các loại vitamin, muối khoáng, một số kháng sinh chống nấm ( ketoconazol).
@ Uống cách xa bữa ăn
(Tức là khoảng 1 giờ trước khi ăn hoặc 1 - 2 giờ sau bữa ăn)
Thuộc nhóm này gồm có :
Các thuốc bị giãm hấp thu do thức ăn, thí dụ lincomycin.
Các dạng viên bao tan trong ruột, thí dụ aspirin pH8.
Các thuốc kém bền trong môi trường acid dịch vị, thí dụ : erythromycin, ampicilin.
@ Thuốc có thể uống vào thời điểm tùy ý
Thuốc nhóm này là các thuốc không bi giãm hấp thu do thức ăn hoặc có thể bị thứa ăn làm chậm hấp thu. Với những thuốc này ta có thể cho uống vào bữa ăn nếu thuốc kích ứng mạnh đường tiêu hóa hoặc khi muốn sử dụng thức ăn để giữ cho nồng độ thuốc trong máu ổn định.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://jincai.forumotion.com
 
TƯƠNG TÁC THUỐC
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Giáo trình môn Kỹ Thuật Điện Tử
» Giải thích thuật ngữ
» Tóm tắt lý thuyết và bài tập kỹ thuật điện
» Thuật ngữ kỹ thuật đóng tàu và đăng kiểm Anh - Việt
» Thác Trắng - Minh Long - Quảng Ngãi

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Jincai :: CHuyên mục Y - Dược :: Khoa Dược-
Chuyển đến